Phỏng vấn Khổng Tử
- Chào phu tử ! Phu tử vừa đi đâu mới về ?
- Lão hủ vừa đi dự cuộc hội thảo quốc tế về Khổng học ở Mỹ về, sẵn đường ghé đảo quốc Sư tử của thằng Lý Quang Diệu, xem chúng nó làm ăn như thế nào ?
- Thưa phu tử, khi ở Mỹ phu tử có đọc tham luận nào về Khổng học không ?
- Đọc để làm gì ? Tại Mỹ và Tây Âu đã có rất nhiều viện Khổng học. Học giả ờ đây đã nghiên cứu rất chi tiết về cái gọi là học thuyết của Khổng Tử, không bỏ sót một khía cạnh nào. Nhưng thật tình mà nói, những điều chúng lĩnh hội được chỉ là hình thức, cái áo mặc bên ngoài của học thuyết Nho giáo mà thôi ! Ta ngồi nghe chúng diễn thuyết “về trung dung”, về “nhân nghĩa” về “đại học – cách vật trí tri”, về tổ chức nhà nước, về quân chủ, dân chủ, về kinh Dịch mà ngậm ngùi, không hiểu chúng nói gì ngoài những mỹ từ trống rổng, thời thượng, và gượng ép !
- Là sao, thưa phu tử ?
- Thực ra, không có cái gọi là Khổng giáo, Khổng học gì cả. Mà chỉ có Nho giáo, Nho học mà thôi. Ta không lập thuyết lập đạo. Ta chỉ là một con người sống trong tập thể những con người, yêu thích cổ nhân và những lề luật đã được thiết định từ thời viễn cổ. Đạo Nho (nho = nhân+nhu) đã có từ khi thiên hạ thoát khỏi thời mông muội, rồi phát triển hoàn chỉnh dần do sự đóng góp của các hiền nhân qua các thế hệ (trong đó Chu công là người có đóng góp nhiều nhất). Ta chỉ thuật lại cho đám môn đệ thân tín yếu chỉ của đạo này, để chúng hành xử đúng mực và sống an lạc hơn mà thôi ! “Tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn Võ”và “thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ” là phương châm của ta ! Các hạ có hiểu không ?
- Thưa phu tử, Trung quốc cho mở rất nhiều học viện Khổng Tử trên thế giới là có ý gì ?
- Các hạ cũng biết đó ! Từ xưa tới nay, nước lớn bao giờ cũng muốn lớn hơn, nên Trung quốc mở nhiều học viện (thậm chí rất nhiều !) mang danh Khổng tử, rao giảng giáo dục, nhân bản gì đó cũng điều có ý đồ bá quyền về văn hóa, giáo dục kéo theo các bá quyền khác (như ý đồ bành trướng lãnh thổ v.v…). Vấn đề là các nước nhỏ có đủ bản lĩnh truyền thống và nội lực để đứng vững và chống lại ý đồ đó hay không ? Thời đại tự do toàn cầu hóa mà, làm sao ngăn cấm được !
- Trong sách Đại học phu tử đã đưa ra tư tưởng “bình thiên hạ” làm nền tảng cho đế vương Trung quốc xâm chiếm các nước khác trên thế giới. Phu tử nghĩ sao về vấn đề này ?
- Thật ra thì Nho gia chỉ đưa ra tư tưởng “tu thân – tề gia – trị quốc” để ổn định xã hội, quốc gia mà thôi. Khi quốc gia đã được củng cố theo tiêu chuẩn đức trị rồi thì thiên hạ sẽ tự nhiên thái bình (“thiên hạ bình”). Không có tư tưởng “bình thiên hạ” trong thuyết ngôn của cổ nhân ! Tống Nho (nhị Trình, Chi Hy) đã vô tình giải thích sai lạc tư tưởng trên – làm vũ khí cho chế độ phong kiến – có cái cớ để xâm lấn các lân bang. Chuyện bóp méo, lợi dụng tư tưởng cổ nhân của các nhà cầm quyền vẫn thường xảy ra trên thế giới từ cổ chí kim mà !
- Thưa phu tử, ngài có thể nói gì về đảo quốc Sư tử ?
- Nói chung thì thằng Lý Quang Diệu nó cũng thông minh đó. Học xảo thuật hiện đại ở Cambridge, nơi đào tạo những nhân tài thế giới (nên nhớ : Diệu cũng đã được bầu làm chủ tịch hội Khổng học thế giới vào năm 1985). Nhưng cái cốt lõi của tư tưởng Lý là mở và đóng. Mở ra thế giới bên ngoài để thu dung những tinh hoa nhân loại. Và đóng vào trong khuôn khổ của Nho học. Triết lý Nho học là cái đầu, kiến thức khoa học kỹ thuật là xương thịt. Không có cái đầu thông minh thì con người chỉ là con vật đi hai chân trên mặt đất. Các hạ thấy không, đất nước Sư tử đã thành một mẫu mực của sự phát triển bền vững, vượt xa các lân bang. “Tu – Tề – Trị ” được áp dụng một cách rất linh hoạt và thông minh ở đây. Phải chú ý một điều : khi mới lập quốc, nước này cũng “khủng hoảng về giá trị sống”, mê đắm vật chất như các quốc gia khác theo mô hình phát triển của các nước Âu Mỹ. Trước đây Nhật cũng đã theo con đường này rồi, Hàn quốc cũng thế, các nước này đều đã thành công. Cái dụng của Nho học đã đơm hoa kết trái ở các quốc gia này !
- Nghe nói ở Pháp cũng có kẻ viết về Nho học ? Thưa phu tử.
- Trước kia thì có thằng Marcel Granet, đã kiến giải triết Nho trong quyển La pensée chinoise cũng tạm được, giờ thì có thằng F. Juillien. Thằng sau còn trẻ nhưng có tư duy khá, biết tìm tòi những tinh hoa cổ của Đông phương (nó viết sách về Nho học và Đông phương học khá nhiều). Cách nhận định về thời không, về nền tảng của tư tưởng Nho học của nó cũng có chỗ được…
- Còn ở Việt Nam thì sao ?
- Ở Việt Nam trước đây có nhiều kẻ viết về Nho – Khổng, nhưng đa phần vay mượn cách luận giải của Lý học đời Tống, không có khám phá gì đặc sắc. Chỉ có thằng Kim Định viết về Nho học, bằng giọng văn cổ và mềm. Kim Định có tham vọng lập thuyết về tư tưởng và sử tính Việt, là một triết sử gia tích hợp được các tri thức mới và cũ của các ngành học thuật hiện đại. Trí thức trẻ lúc đó rất yêu thích về những phát hiện này và hiện nay có người vẫn còn ca ngợi. Kim Định đưa ra nhiều khảo chứng để khẳng định kinh Dịch là của Việt tộc. Khẳng định trên của Kim Định có đúng hay không, chắc các hạ cũng đã biết. Sau này một số thằng bắt chước Kim Định viết về nguồn gốc văn hóa Việt, nhưng chỉ cho ra những sách đạo văn rẻ tiền, chả có tìm tòi gì mới.
Gần đây nhất có Nguyễn Hoàng Phương đã bỏ mấy chục năm học hỏi về kinh Dịch, đem lý thuyết toán Tập mờ hiện đại mô tả cấu trúc của kinh Dịch (Tám quẻ Dịch được trình bày trong bảng Đại số Tám chiều, một thuật toán cao cấp hiện đại). Phương đã tâm đắc :“kinh Dịch là triết học tinh hoa của Đông phương, một lý thuyết tối ưu về nhiều mặt (sinh học, y học, quy luật tâm – sinh lý và xử thế …”). Phương cũng để tâm nghiên cứu về trường sinh học, các khoa học tâm linh và các học thuật khác có liên quan (như y học, tướng học, kham dư học, tử vi học, bát tự Hà Lạc …). Các phát hiện của Phương đã mở mắt chỉ đường cho các trí thức Việt chỉ biết sùng bái triết học và khoa học Tây phương !
Nói chung bọn chúng chịu ảnh hưởng sâu nặng của phương pháp tư biện Tây phương nên hiểu các vấn đề nền tảng của Nho giáo quá khác lạ, không giống thánh nhân xưa đã hiểu. Các hạ có biết không ? Kinh Dịch là cuốn cẩm nang thu tóm mọi kiến giải về vũ trụ, về con người, về thời, không và những cái vi tế khác. Vô tận, vô cùng ! Kinh Dịch chưa bao giờ là sách của Trung Hoa, chưa bao giờ là sách của bất cứ nước nào, kể cả Việt Nam. Kinh Dịch kết tụ trí tuệ của hiền nhân kim cổ, cuốn sách vĩnh cửu của toàn nhân loại (“Dịch quán quần thư chi thủ”). Mọi cố gắng tìm tác giả đích thực của Kinh Dịch chỉ vô ích thôi. Ta đã ăn ở, hít thở, đàm đạo, giảng dạy học trò trong huyền vực của kinh Dịch ! Ta không cần biết tác giả của kinh Dịch là ai, là của dân tộc nào. Khi viết Thập dực ta cũng chỉ tô son đánh bóng cho đôi cánh to lớn của con chim đại bàng thêm long lanh, rực rỡ hơn lên mà thôi ! Như sương mơ. Như tiếng hát của nàng thôn nữ bên dòng sông – “tại hà chi châu, yểu điệu thục nữ ”!
- Phu tử có nghe nói về Trung thiên Dịch chưa ?
- Trung thiên Dịch của Trần Cao Vân phải không ? Thì nó cũng triển khai một khía cạnh của kinh Dịch mà thôi. Thuyết tam tài của Nho giáo là Thiên Địa Nhân (đúng ra phải gọi là Thiên Nhân Địa) thì Trần Cao Vân đề cao tài Nhân, đặt Nhân ngang với Thiên và Địa. Vân tuyên bố “Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh / Trời Đất in Ta một chữ đồng”. Con người không thua kém Trời Đất một chút nào. Đây là tâm lý tự trọng và tự ái của một dân tộc đang trong vòng nô lệ. Trung thiên Dịch lấy con người làm trung tâm, nhưng nay đã thất truyền, không biết Vân đã ngôn thuyết những gì trong đó ? Ta rất thích một con người ngang tàng, độc lập như Vân !
- Phu tử có yêu, có thất tình vì một người đàn bà nào chưa ?
- Có chứ. Ta là con người mà, có phải gỗ đá đâu ! Lục dục, thất tình ta đều có. Nhưng ở mức độ trung dung. Ta không vô tình, diệt tình như các ông bạn ta là Lão Tử và Sakhya Muni. Ta tiết tình để chế hóa cái sai lầm, cái ác trong con người bản nhiên mà thôi ! Khi chưa kết hôn ta cũng có vài ba bóng hồng lảng vảng trong tâm tưởng. Nhưng khi kết hôn rồi thì ta luôn chung thủy trong hôn nhân. Đó là nhân luân, là đạo thường không thể bỏ được ! Kinh Dịch đã dạy ta về vấn đề này. Hai quẻ Càn – Khôn là đạo Trời Đất, hai quẻ Hàm – Hằng là đạo Người, giúp con người cân bằng giữa tâm hồn và thể xác để mãi sinh sôi nảy nở : “nhất âm nhất dương chi vị đạo”, “sinh sinh chi vị dịch”mà !
- Khi yết kiến Nam tử, phu tử có động lòng vì người đàn bà này không ?
- Cũng có đấy. Nàng là một kỳ phụ, một tuyệt thế giai nhân. Nhưng nàng rất cô đơn, không ai hiểu được lòng nàng. Ta đã say đắm trước vẻ đẹp kiêu sa đài các của nàng (“Ngô vị kiến háo đức như háo sắc giả dã”). Suýt chút nữa ta đã bỏ hết các đồ đệ để đi theo nàng. Nhưng ta đã dừng lại đúng lúc phải dừng. Trung dung mà ! (mặc dù ta vẫn chưa đạt đến đỉnh cao của lý đạo Trung dung : “Trung dung bất khả năng”). Để trả lễ với nàng (nói đúng hơn là trả tình !) ta đã đàn cho nàng nghe – tiếng đàn kết nối tơ tình ngọt ngào thanh thoát của kinh Thi (= “tư vô tà”!) và nàng đã bắt được những sợi tơ lung linh của tình yêu muôn thuở (sắc tài tương kiến tương tư !)
Ta đã thoát khỏi lưới tình nhờ tiếng đàn tinh khiết hóa giải cho ! Hưng ư thi,… thành ư nhạc cứu vớt thánh nhân ! Các hạ có cảm được không ?
- Phu tử có nghe nói đến Heidegger ?
- Thằng Heidegger bên Đức chứ gì ? Nó có bàn về Hữu và Thời. Nhưng “Thời và Hiện tính thể là một”. “Thời gian căn nguyên làm nên khả tính cho trí tưởng tượng tiên nghiệm vì tự nó trí tưởng tượng tiên nghiệm thiết yếu là tiếp thu tính sáng tạo và sáng tạo tính tiếp thu”. Thời là “mảnh trời cuối cùng”mà con người phải níu lấy cho đến khi không còn bất cứ “mảnh trời cuối cùng” nào nữa thì lúc ấy “hoa hồng nở bỡi vì hoa hồng nở”. “Thời là Chủ thể tính và Chủ thể tính là Thời ”. Heidegger đã nghiên cứu sâu về Sein, Dasein, Logos, là triết gia đầu tiên phá hủy Siêu hình học (Siêu thể học) truyền thống Tây phương (hai ngàn năm triết lý Tây phương là sự lãng quên Tồn tại, đánh đồng sự hiện hữu con người với sự hữu của vạn vật). Nó cũng đùa chơi trên ngôn ngữ hàn lâm, sáng tạo một ngôn ngữ bí hiểm đi gần với nguyên ngôn để phá bỏ lề lối tư duy thông thường và rung động vì ngôn ngữ Thi ca (“Ngôn ngữ là ngôi nhà của Tồn tại”), nên cuối đời đã đưa triết lý của mình về nương tựa bên nàng Thơ trong Huyền lâm : Uyên triết giao phối với Uyên thi ! Có thể nói Heidegger đã dọn đường cho cuộc song thoại giữa tư tưởng Tây phương và Đông phương.
- Phu tử có nhận xét gì về triết học Tây phương ?
- Sách vở về triết học của Tây phương thật đa dạng. Nào là triết học về chất, về lý giới, siêu hình. Nào là triết học kinh viện, duy lý, duy nghiệm, hiện tượng học, duy tâm, duy vật, hiện sinh học, cấu trúc học, hiện đại và hậu hiện đại gì đó, phồn tạp đa dạng không thể kể hết. Các tay chính phiệt Tây phương thường lợi dụng, đẩy triết lý thuần lý hư tưởng thành chủ nghĩa (ism) giáo điều cực đoan độc đoán, kết bè kết đảng làm khổ không biết bao nhiêu dân tộc trên thế giới ! Ism ơi là Ism ! Các trận chiến tranh tôn giáo (thập tự chinh) thời trung cổ, các trận đại chiến thế giới lần I, lần II, chiến tranh lạnh, chiến tranh ý thức hệ, chiến tranh xâm lược, chiến tranh giải phóng, chiến tranh giành quyền lợi giữa các thế lực tư bản và vô sản… và hiện nay là chiến tranh giữa chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan với chủ nghĩa Thiên chúa giáo cũng cực đoan không kém ! Chủ nghĩa tiếp diễn chủ nghĩa, chiến tranh tiếp diễn chiến tranh ! Đó là hậu quả của tinh thần triết lý và khoa học cuồng mê vật chất, tiêu diệt thiên nhiên và xa lánh tính người ! Những kiến giải về vũ trụ và nhân sinh của chúng chỉ là những xảo thuật của ngôn ngữ văn tự mà thôi. Kẻ đi sau thì đạp trên xác của người đi trước. Triết học lý giải các vấn đề rối rắm như ma trận, uy hiếp cái đầu nhỏ bé của các nước Đông phương. Tư tưởng Tây phương đề cao lý tính, dựa trên những nguyên lý thuần lý (đồng nhất, mâu thuẫn, triệt tam, túc lý, cứu cánh, nhân quả và tất định) chặt chẽ, hợp lý nhưng lãng quên con người như là con người đang sống ở đây, tại lúc này – mà triết học hiện sinh – nhất là triết học về Tồn tại – mới khám phá gần đây ! Nhưng giờ thì Đông phương cũng tư duy y hệt như Tây phương, bắt chước rất giỏi, nhưng rất nông cạn và lố bịch !
Luật đồng hóa chan hòa mà ! Giống khác, thịnh suy, suy thịnh nằm trong lòng bàn tay của luật tuần hoàn ! Tại sao phải xét đoán cường nhược, hơn thua giữa các vùng miền trên thế giới trong một thời gian chưa tới vài trăm năm ? Phương thức chủ biệt (# phân tích), chủ toàn (# tổng hợp) của tư tưởng Tây và Đông chưa chắt bên nào ưu việt hơn bên nào :“Phế đó là hưng đó; thu rút lại, là mở rộng đó ra; cướp đoạt đó, là ban thêm cho đó; làm yếu đi, là làm mạnh lên đó” ! (luật Lưỡng cực). Nhưng các nước Đông phương cũng đừng mất cảnh giác, phương thức chủ biệt có cái thế mạnh của nó, nên phải nghiên cứu và dùng phương thức tích hợp siêu chủ biệt chủ toàn để chế ngự hóa giải nó và tự làm mạnh mình…
- Nhưng thưa phu tử, khoa học kỹ thuật Tây phương tiến nhanh quá, làm sao ta bắt kịp được ?
- Bắt kịp làm gì ! Khoa học kỹ thuật được xây dựng từ những con số (các phương trình toán học, logic học, các toán tử nhị phân…) tiến nhanh nhưng rất lạnh lùng, thiếu nhân tính. Nó tiến theo đường thẳng trong khi chúng ta tiến theo đường xoắn ốc. Tây phương biểu thị thời gian bằng thần Kronos (tay cầm lưỡi liềm tay cầm bình cát, căn cứ vào số cát chảy mà xác định thời khắc…nó có tính cách chảy thẳng và bất khả phản hồi – ra đi không hẹn ngày về !). Nhưng thằng Einstein (cha đẻ thuyết tương đối) đã có cái nhìn hoàn toàn khác : thời gian và không gian không thể tách rời nhau. Con người đang sống trong vũ trụ bốn chiều mà thời gian là chiều thứ tư. Đó là sự tương đối của thời gian. Thời gian có tính tuần hoàn theo nhịp sinh chuyển vô tận. Không gian không phẳng mà có hình cong. Tư tưởng này phần nào xích lại gần với tư tưởng của kinh Dịch ! (64 quẻ của kinh Dịch đã huyền giải toàn bộ tiến trình biến hóa của thời gian và không gian một cách rất hình tượng và tinh tế !).
Thằng Hawking bỏ cả một đời nghiên cứu về vũ trụ, mới vỡ ra rằng không có Thượng đế, không có ai thiết định vận mệnh của con người, thiên đường và thế giới bên kia là ảo tưởng. Tất cả chỉ là tự nhiên, là dịch chuyển !
Trước dây Nietzsche đã tuyên bố “thượng đế đã chết”, giờ đây Hawking lại nói :“triết học cũng đã chết vì triết gia không bắt kịp những tiến bộ của khoa học hiện đại”, mà triết học là mẹ đẻ của khoa học, triết học chết thì khoa học còn tồn tại được sao ? Thật là túy ngôn ! Tây phương là vậy, thường xuyên xảy ra những trận địa chấn kinh hồn về tư tưởng triết học và khoa học ! Trong khi ở Đông phương, các kiến giải đã có từ xưa, nhu thuận, đằm thắm và hòa nhập vào cuộc sống như cá với nước. Nho đạo là đạo của sự sống, của minh triết, của người biết mình phải làm gì, thong dong vô ngại với lẽ trôi chảy vô thường của trời đất (“thệ giả như tư phù bất xả trú dạ”).
Ta thích an vi, nhàn du, dẫn theo năm sáu đứa tiểu đồng xuống dòng sông Nghi tắm mát rồi lên đàn Vũ Vu hóng gió, vừa đi vừa hát rồi kéo nhau về – như thằng học trò Tăng Tích của ta ngày xưa ! Bận tâm làm gì đến thế giới vô hình, đến sự tiến bộ, thoái bộ của sử lịch ! Thiên đường, địa ngục cũng do con người chế tác ra để tạo những niềm tin mê muội, thế thôi !
- Phu tử thật đúng là một nghệ sĩ ?
- Nghệ sĩ gì đâu ! Các hạ nên gọi ta là Người, một kẻ làm người cho ra người, đơn giản thế thôi ! Nếu không muốn thì gọi ta bằng thầy (tử) cũng được. Bây giờ chức danh con người gắn liền rất nhiều cái “sĩ” : nghệ sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, bệnh sĩ, cuồng sĩ, tu sĩ, tử sĩ, liệt sĩ… Nhưng để chính danh hơn ta gọi chung là loạn sĩ. Các hạ cảm thấy thế nào ?
- Dạ, phu tử “chính danh” thật tuyệt vời, đúng ý kẻ hậu bối dốt nát này !Thưa phu tử, phu tử đã bỏ chút ít thì giờ hí luận về lý uyên áo của đạo Nho,đạo của Người nhu thuận. Hậu bối rất phục và vô cùng cảm tạ phu tử. Thật đúng là :“triêu văn đạo, tịch tử khả hỉ”!
- Chào các hạ ! Giờ thì lão hủ phải về với Khổng Lâm đây !
TÁC PHẨM ĐĂNG CÙNG NĂM
Không tìm thấy bài thơ đăng cùng năm